xuất nhập khẩu – Kinhtethitruong.net https://kinhtethitruong.net Trang thông tin kinh tế & thị trường Wed, 17 Sep 2025 09:42:42 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/kinhtethitruong/2025/08/kt.svg xuất nhập khẩu – Kinhtethitruong.net https://kinhtethitruong.net 32 32 Gỡ rào cản thương mại để thúc đẩy xuất khẩu vào EU https://kinhtethitruong.net/go-rao-can-thuong-mai-de-thuc-day-xuat-khau-vao-eu/ Wed, 17 Sep 2025 09:42:40 +0000 https://kinhtethitruong.net/go-rao-can-thuong-mai-de-thuc-day-xuat-khau-vao-eu/

Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển không ngừng của thương mại toàn cầu, việc đảm bảo tuân thủ các quy định và tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan đã trở thành yếu tố then chốt đối với các doanh nghiệp. Một trong những công cụ quan trọng giúp họ đạt được mục tiêu này là giấy chứng nhận xuất xứ (C/O). Công cụ này không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các yêu cầu của cơ quan chức năng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin với các đối tác quốc tế.

EuroCham: Cùng Việt Nam cải cách, khai thác tối đa EVFTA - Ảnh 2.
EuroCham: Cùng Việt Nam cải cách, khai thác tối đa EVFTA – Ảnh 2.

Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) đang ngày càng được các doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp châu Âu, coi trọng. Theo số liệu mới nhất, có tới 56% doanh nghiệp châu Âu hoạt động tại Việt Nam thường xuyên nộp chứng từ C/O trên cơ sở định kỳ hàng tháng. Điều này cho thấy sự gia tăng về tầm quan trọng của giấy chứng nhận xuất xứ trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Việc cấp và sử dụng C/O không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là cách để các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện tính minh bạch và chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế.

Trong năm 2024, Việt Nam đã cấp hơn 1,8 triệu chứng nhận xuất xứ ưu đãi, tương đương với giá trị xuất khẩu lên tới trên 100 tỷ USD. So với năm 2023, số lượng C/O cấp tăng 18% và giá trị xuất khẩu tăng 28%. Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể trong việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các ưu đãi thuế quan mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Khoảng 28% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có hiệp định FTA đã được hưởng ưu đãi thông qua việc sử dụng C/O.

Sự gia tăng trong cấp và sử dụng C/O không chỉ phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ và tận dụng các quy định thương mại quốc tế mà còn là kết quả của các chính sách hỗ trợ của chính phủ trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và khai thác các FTA. Việc đẩy mạnh cấp C/O ưu đãi cũng góp phần tăng cường tính cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời thu hút thêm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Để duy trì và phát huy lợi thế này, các doanh nghiệp cần tiếp tục nâng cao nhận thức và năng lực về việc cấp và sử dụng C/O, cũng như cải thiện năng lực sản xuất và chất lượng hàng hóa để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ để giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc cấp và sử dụng C/O, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và phát triển kinh tế của đất nước.

]]>
Savimex gặp khó quý 2/2025 vì chính sách thuế quan Mỹ https://kinhtethitruong.net/savimex-gap-kho-quy-2-2025-vi-chinh-sach-thue-quan-my/ Mon, 15 Sep 2025 09:13:53 +0000 https://kinhtethitruong.net/savimex-gap-kho-quy-2-2025-vi-chinh-sach-thue-quan-my/

Công ty Cổ phần Hợp tác Kinh tế và Xuất Nhập khẩu Savimex (SAV) đang phải đối mặt với những thách thức đáng kể do chính sách thuế quan đối ứng của Mỹ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Mới đây, trong báo cáo tài chính quý 2/2025, SAV đã ghi nhận doanh thu đạt gần 238 tỷ đồng, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù lãi gộp của công ty đã tăng 15%, đạt gần 41 tỷ đồng và các chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp được kiểm soát tốt, nhưng khoản lỗ tài chính đột biến lên tới 39 tỷ đồng đã khiến Savimex lỗ ròng 22,6 tỷ đồng trong quý 2/2025. Đây là lần đầu tiên công ty này lỗ trở lại kể từ quý 4/2023.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ việc Savimex nắm giữ gần 3,4 triệu cổ phiếu của hãng xuất khẩu may mặc CTCP Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công (TCM). Theo Savimex, những thông tin liên quan đến chính sách thuế quan của Mỹ đã tác động tiêu cực đến giá thị trường của khoản đầu tư tài chính này, dẫn đến việc phải trích lập dự phòng tính đến cuối tháng 6.

Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của các công ty xuất khẩu đang đối mặt với áp lực lớn kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố chính sách thuế quan đối ứng. Mặc dù đã có sự hồi phục đáng kể, cổ phiếu TCM và SAV vẫn giảm giá lần lượt 26% và 11% so với đầu năm, trong khi VN-Index tăng 17% tính đến 9h39 phiên 22/07.

Có thể thấy, chính sách thuế quan đối ứng của Mỹ đã gây ra những tác động không lường trước đối với các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có Savimex. Việc phải trích lập dự phòng cho khoản đầu tư tài chính đã khiến công ty này lỗ ròng trong quý 2/2025. Trong bối cảnh này, các nhà đầu tư cần theo dõi sát sao tình hình của Savimex và các công ty xuất khẩu khác để có những quyết định đầu tư sáng suốt.

Về lâu dài, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mới để giảm thiểu rủi ro. Đồng thời, chính phủ cũng cần có những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp để giúp họ vượt qua những thách thức này.

]]>
Tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan FTA của doanh nghiệp Việt đang giảm https://kinhtethitruong.net/ty-le-su-dung-uu-dai-thue-quan-fta-cua-doanh-nghiep-viet-dang-giam/ Fri, 23 Dec 2022 03:21:53 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1310

“Tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) đang có xu hướng giảm (từ mức kỷ lục 39,7% năm 2017 giảm dầnxuống mức 32,7% năm 2021) và diễn tiến không ổn định với từng hiệp định. Điều này cho thấy các doanh nghiệp dường như chưa có chiến lược ổn định cho việc tận dụng các ưu đãi”, TS. Nguyễn Thị Thu TrangGiám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI cho biết.

Khảo sát năm 2022 của VCCI cho thấy, trong số các doanh nghiệp từng ít nhất được hưởng ưu đãi thuế quan với 1 lô hàng, có tới trên 34% doanh nghiệp cho biết là nhờ hàng hóa, quy trình sản xuất của họ may mắn đã đáp ứng các quy tắc xuất xứ FTA mà không phải là do chủ động chuyển đổi để đáp ứng các điều kiện về xuất xứ này.

NHỮNG LỰC CẢN TRONG THỰC THI FTA

Theo kết qủa khảo sát của VCCI, “Không biết về các lợi ích của FTA” luôn nằm trong tốp đầu các lý do khiến doanh nghiệp chưa được hưởng lợi từ FTA (chỉ đứng sau lý do về thực tế “chưa có giao dịch với đối tác FTA”).

Về những lực cản khiến doanh nghiệp khó hiện thực hóa các cơ hội tiềm năng từ các FTA, doanh nghiệp lo ngại nhất là về các biến động và bất ổn của thị trường (46,8% doanh nghiệp), hạn chế trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (46,4%), thiếu thông tin về cam kết và cách thức áp dụng (40,1%). Mặc dù đã có sự cải thiện đáng kể so với các năm trước, bất cập trong công tác tổ chức thực thi các FTA của các cơ quan Nhà nước vẫn là lực cản với khoảng 28,2% doanh nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trung bình đi các thị trường FTA luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung.  Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong hai năm 2020-2021 (giai đoạn mà các FTA với tất cả 53 đối tác đã có hiệu lực), tăng trưởng xuất khẩu trung bình đi các thị trường FTA là 10,3%/năm, thấp hơn so với mức 13%/năm tăng trưởng trung bình của xuất khẩu đi toàn thế giới. Nói cách khác, với động lực từ các FTA, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đi các thị trường FTA là khá cao nhưng vẫn chưa bằng tốc độ tăng trưởng trung bình ở các thị trường chưa có FTA (đặc biệt Hoa Kỳ).

Dự báo mới nhất (tháng 10/2022) của nhiều tổ chức quốc tế đều cho thấy viễn cảnh 2023 không sáng sủa đối với xuất khẩu của Việt Nam.

 

Mặc dù năm 2022 hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và với các thị trường FTA nói riêng của Việt Nam vẫn đạt được các kết quả ấn tượng như: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 11 tháng đầu năm 2022 đạt 673,8 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu đạt 342,2 tỷ USD tăng 13,4%) nhưng tình hình thị trường đã xuất hiện nhiều dấu hiệu bất lợi trong quý 4/2022 và thực tế này dự kiến khó khăn hơn trong năm 2023; thậm chí, có thể tiếp tục phức tạp trong thời gian dài hơn.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của hầu hết các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam năm 2023 đều giảm so với 2022 và giảm sâu so với 2021 (riêng khu vực đồng Euro dự kiến giảm sâu từ 3,1% năm 2022 xuống 0,5% năm 2023, thậm chí là tăng trưởng âm ở các thị trường bạn hàng lớn của Việt Nam ở EU như Đức, Ý…).

Dự báo của WTO về tăng trưởng nhập khẩu của các thị trường lớn cũng theo chiều hướng tương tự (Bắc Mỹ năm 2023 dự kiến chỉ tăng 0,8% so với mức tăng 8,5% năm 2022 và 12,3% năm 2021; EU thậm chí là -0,7%, trong khi 2022 tăng 5,4% và 2021 8,3%).

Thu nhập giảm, cầu tiêu dùng yếu ở các thị trường xuất khẩu trọng điểm được dự báo trong năm 2023 chắc chắn sẽ khiến quy mô thị trường bị thu hẹp, cạnh tranh gia tăng giữa hàng hóa từ Việt Nam và từ các đối thủ cạnh tranh khác, thậm chí với các ngành sản xuất nội địa ở các thị trường này, đặc biệt là cạnh tranh về giá.

Trong những ngày gần đây, tình hình thị trường có một vài tín hiệu lạc quan hơn; chẳng hạn, Trung Quốc đã nới lỏng đáng kể chính sách ứng phó Covid-19 khiến các nguy cơ về chuỗi cung bớt căng thẳng hay EU dường như đã vượt qua giai đoạn căng thẳng nhất về năng lượng, lạm phát. Tuy nhiên, đó chỉ là vài chỉ dấu trong bối cảnh ảm đạm nói chung.

TẬN DỤNG FTA ĐỂ GIỮ ĐÀ XUẤT KHẨU

Trong bối cảnh như vậy, ”, TS. Nguyễn Thị Thu Trang Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, nhấn mạnh rằng các lợi thế từ FTA, đặc biệt là các ưu đãi thuế quan tiếp tục được mở rộng theo lộ trình trong thời gian tới, có thể là một công cụ hỗ trợ đặc biệt quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam, tạo ra lợi thế cạnh tranh để có thể tiếp tục giữ và mở rộng thị phần ở các thị trường này.

TS Nguyễn Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập, VCCI.
TS Nguyễn Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập, VCCI.

Để thực hiện được điều này, VCCI đề xuất 3 nhóm giải pháp chính sách tức thời.

Bộ Công Thương, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai các chiến dịch quảng bá thương hiệu sản phẩm Việt Nam thiết kế riêng cho từng thị trường (ưu tiên thị trường EU và châu Mỹ).

Theo đó, Thương vụ Việt Nam ở các thị trường FTA sẽ (i) xây dựng kênh kết nối đối tác với doanh nghiệp Việt Nam ở từng thị trường và phổ biến thông tin rộng rãi về các kênh kết nối này cho doanh nghiệp; (ii) thiết lập các đầu mối thông tin thị trường (bản tin thị trường, định kỳ cập nhật tình hình thị trường như cung, cầu, các điều chỉnh chính sách…) đối với các sản phẩm xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam.

Trong khi, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương thiết lập 01 Tổng đài hỗ trợ doanh nghiệp về quy tắc xuất xứ FTA, công bố rộng rãi về Tổng đài trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua đó doanh nghiệp biết đến và có thể xin hướng dẫn, tư vấn để hiểu, thực hiện và đáp ứng các quy tắc xuất xứ FTA.

Về các giải pháp chính sách trong dài hạn, VCCI kiến nghị Đảng và Nhà nước xem xét hai định hướng chính.

Thứ nhất, nghiên cứu khả thi và xúc tiến việc đàm phán các FTA mới, ở dạng thức thích hợp (song phương, đa phương/khu vực) với một số thị trường tiềm năng cho xuất khẩu của Việt Nam.

Ví dụ: Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam; Nam Mỹ (đặc biệt là Khối MERCOSUR) là khu vực kinh tế nhiều tiềm năng, không cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam; Châu Phi (thông qua Liên minh châu Phi hoặc lựa chọn các nền kinh tế lớn, đầu đàn trong khu vực) vì khu vực này có trình độ phát triển tương đối thấp, có nhu cầu cao đối với các sản phẩm ở tầm trung và thấp, yêu cầu không quá cao về chất lượng, mẫu mã, thương hiệu.

Thứ hai, thiết lập Chương trình đánh giá định kỳ hàng năm về hiệu quả thực thi các FTA một cách toàn diện qua đó nhận diện và xử lý kịp thời các vấn đề cản trở việc tận dụng hiệu quả các FTA.

Trong đó, tập trung đánh giá công tác thể chế, pháp luật, thủ tục hành chính liên quan tới các hoạt động thực thi FTA (đặc biệt là các thủ tục xuất nhập khẩu, kiểm tra chuyên ngành; cấp giấy chứng nhận xuất xứ FTA; và cấp phép và quản lý đầu tư).

Đánh giá tình hình thực thi FTA của doanh nghiệp (đặc biệt là về mức độ hiểu biết, khả năng tận dụng, ảnh hưởng của các FTA, các lực cản trong thực thi FTA của doanh nghiệp).

]]>
Việt Nam – Indonesia vẫn còn nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư https://kinhtethitruong.net/viet-nam-indonesia-van-con-nhieu-tiem-nang-de-thuc-day-hop-tac-kinh-te-thuong-mai-dau-tu/ Fri, 23 Dec 2022 03:07:41 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1397

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Indonesia trong 10 tháng năm 2022 đạt 11,58 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đạt trên 3,78 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2021…

Chiều 19/12/2022, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Indonesia tại TP.HCM tổ chức “Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Indonesia năm 2022”.

Chương trình nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Indonesia có cơ hội gặp gỡ, trao đổi tìm kiếm các đối tác xuất nhập khẩu và các đối tác phân phối sản phẩm, mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển và phục hồi kinh tế hậu Covid-19.

Ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc ITPC, cho biết mức độ tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của thị trường Indonesia rất lớn, nhất là các sản phẩm Halal – vốn là thị trường còn rất nhiều cơ hội để gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

Hiện nay, Indonesia là một trong những thị trường nhập khẩu có tiềm năng rất lớn của Việt Nam tại khu vực ASEAN. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Indonesia 10 tháng năm 2022 đạt 11,58 tỷ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đạt trên 3,78 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2021.

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia bao gồm: hàng thủy sản, cà phê, sản phẩm hóa chất, chất dẻo nguyên liệu, hàng dệt, may, giày dép các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, sắt thép các loại…  Trong đó, nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nhóm hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Indonesia.

Hàng hóa Việt Nam cũng đang từng bước khẳng định vị thế tại thị trường Indonesia với giá trị kim ngạch xuất khẩu đang gia tăng theo thời gian.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tuấn các sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam như các sản phẩm nông sản, dệt may, thực phẩm, đồ uống, đồ gia dụng, công nghiệp tiêu dùng của Việt Nam hiện vẫn còn chưa thâm nhập mạnh vào thị trường và có giá trị kim ngạch xuất khẩu còn khiêm tốn. Có thể khẳng định Việt Nam – Indonesia vẫn còn nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư.

Ông Agustaviano Sofjan, Tổng Lãnh sự nước Cộng hòa Indonesia tại TP.HCM kỳ vọng các doanh nghiệp đạt được thỏa thuận kinh doanh cụ thể, mang lại lợi ích cho các bên. - Ảnh: PC.
Ông Agustaviano Sofjan, Tổng Lãnh sự nước Cộng hòa Indonesia tại TP.HCM kỳ vọng các doanh nghiệp đạt được thỏa thuận kinh doanh cụ thể, mang lại lợi ích cho các bên. – Ảnh: PC.

Chia sẻ tại hội nghị, ông Agustaviano Sofjan, Tổng Lãnh sự nước Cộng hòa Indonesia tại TP.HCM, nhấn mạnh các cơ quan chức năng của Indonesia luôn tạo điều kiện và là cầu nối nhằm thúc đẩy tiềm năng cũng như cơ hội giữa hai nước, góp phần củng cố và tăng cường kết nối giữa chính phủ, người dân và các doanh nghiệp.

Đến với hội thảo có sự tham gia của 9 doanh nghiệp và nhà phân phối các sản phẩm đến từ Indonesia, hoạt động trong 3 lĩnh vực chính: F&B, đồ nhựa gia dụng và đồ thủ công.

Ngoài kết nối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại TP.HCM để tìm đại lý phân phối, doanh nghiệp Indonesia có thể tìm cơ hội tham gia vào thị trường Việt Nam thông qua hai hệ thống phân phối hiện đại là Satra và Saigon Co.op.

Ông Agustaviano Sofjan hy vọng các doanh nghiệp sẽ mở rộng mạng lưới kinh doanh và đạt được thỏa thuận kinh doanh cụ thể, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp của hai nước.

“Thương mại là một trong những điểm mạnh về hợp tác của Indonesia và Việt Nam. Cụ thể năm 2021, thương mại song phương Indonesia và Việt Nam đạt hơn 11 tỉ USD, vượt mục tiêu đề ra trước đó là 10 tỉ USD”, ông Agustaviano Sofjan nói.

]]>
Sáu giải pháp đẩy nhanh lộ trình “Hải quan thông minh” vào năm 2030 https://kinhtethitruong.net/sau-giai-phap-day-nhanh-lo-trinh-hai-quan-thong-minh-vao-nam-2030/ Thu, 22 Dec 2022 08:03:04 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1453

Tổng kết năm 2022, ngành hải quan đặt mục tiêu ứng dụng công nghệ số để đến năm 2030 sẽ hoàn thành “Hải quan thông minh”…

Thông tin về kế hoạch chuyển đổi số của ngành hải quan, Tổng cục Hải quan cho biết, mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 là hoàn thành hải quan số; phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành hải quan thông minh.

ĐẶT MỤC TIÊU 100% TỰ ĐỘNG VÀ SỐ HOÁ

Cụ thể, kế hoạch nêu rõ đến năm 2030, có tới 100% chứng từ thuộc hồ sơ hải quan đối với các loại hình cơ bản được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử, tiến tới được số hóa.

 

“100% cảng, cửa khẩu quốc tế trọng điểm được triển khai hệ thống quản lý giám sát hàng hóa tự động, trang bị hệ thống soi chiếu hàng hóa, hành lý, hệ thống giám sát camera và các thiết bị hỗ trợ trong công tác kiểm tra, giám sát hải quan”, Tổng cục Hải quan nêu rõ.

Theo đó, kết quả, hình ảnh, thông tin được truyền trực tiếp về trung tâm xử lý tập trung của cơ quan hải quan và chia sẻ thông tin với các bộ, ngành và các đơn vị có liên quan tại cửa khẩu.

Đồng thời, có tới 100% hàng hóa thuộc đối tượng rủi ro cao vận chuyển bằng container chịu sự giám sát hải quan được giám sát bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại, dữ liệu được kết nối về trung tâm xử lý tập trung của cơ quan hải quan.

Cùng đó, 100% các cửa khẩu đường bộ triển khai hệ thống tiếp nhận và xử lý thông tin khai trước về hàng hóa xuất nhập khẩu trước khi phương tiện vận chuyển hàng hóa qua biên giới.

Ngoài ra, 100% các doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật, doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp thực hiện hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu, kết nối chia sẻ dữ liệu quản lý sản xuất với cơ quan hải quan.

Để nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế, ngành hải quan cũng phấn đấu 100%  doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu phát sinh nợ thuế được theo dõi, cập nhật tự động trên hệ thống điện tử của cơ quan hải quan; 100% hồ sơ nghiệp vụ kiểm soát hải quan cơ bản được số hóa.

Ngành hải quan cũng phấn đấu mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan đạt 95% trở lên đối với các chỉ tiêu chính thuộc các nội dung: tiếp cận thủ tục hành chính hải quan, thực hiện thủ tục hành chính hải quan, sự phục vụ của công chức hải quan.

TÁI THIẾT KẾ TỔNG THỂ QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ

Với quyết tâm hoàn thành các mục tiêu đề ra tại kế hoạch và đảm bảo tính thống nhất trong triển khai toàn ngành, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các cục hải quan tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành kế hoạch chuyển đổi số tại đơn vị. Đồng thời, Tổng cục Hải quan cũng thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của Tổng cục Hải quan và tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo. Song song với đó là tiến hành triển khai toàn diện 6 giải pháp trọng tâm.

Tổng cục Hải quan nêu rõ, thứ nhất,xây dựng mô hình hải quan thông minh, đáp ứng yêu cầu quản trị thông minh, quản lý doanh nghiệp, hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh toàn diện từ khâu đầu đến khâu cuối.

Đồng thời, có khả năng tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành, doanh nghiệp thông qua “Cơ chế một cửa quốc gia” và sẵn sàng trao đổi dữ liệu hải quan với các nước trong khu vực và trên thế giới.

 

“Phải có mức độ tự động hóa cao, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới và hiện đại trên nền tảng số, phi giấy tờ, đảm bảo minh bạch, công bằng, hiệu lực, hiệu quả, có khả năng dự báo, thích ứng với sự biến động của thương mại quốc tế và yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, phục vụ người dân, doanh nghiệp”, Tổng cục Hải quan nhấn mạnh.

Thứ hai, căn cứ mô hình hải quan thông minh, Tổng cục Hải quan tập trung nguồn lực để thực hiện tái thiết kế tổng thể quy trình nghiệp vụ hải quan.

Trong đó, rà soát tổng thể các quy trình nghiệp vụ hiện nay, xây dựng các quy trình để đảm bảo tính liên thông, liên tục đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan từ khâu đầu đến khâu cuối, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế; qua đó, tạo điều kiện để ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ ba,trên cơ sở kết quả tái thiết kế tổng thể quy trình nghiệp vụ, Tổng cục Hải quan thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa quy trình nghiệp vụ, triển khai hệ thống công nghệ thông tin mới và chủ động nghiên cứu các công nghệ then chốt của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong từng bài toán nghiệp vụ hải quan cụ thể như: Internet vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Bigdata), Phân tích thông minh (BI), Di động (Mobility), Chuỗi khối (Blockchain), Ảo hóa (Cloud) và Trí tuệ nhân tạo (AI).

Thứ tư,trên cơ sở tái thiết kế quy trình nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin, Tổng cục Hải quan thực hiện sắp xếp, huy động nguồn lực trong toàn ngành để tổ chức, triển khai kế hoạch chuyển đổi số.

Đồng thời, đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về công nghệ thông tin hải quan phục vụ đắc lực trong công tác triển khai chuyển đổi số.

Để đảm bảo triển khai thành công, trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của Tổng cục để thống nhất chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện công tác chuyển đổi số. Bên cạnh đó, các cục hải quan tỉnh, thành phố cũng đã thành lập các Ban Chỉ đạo chuyển đổi số.

Theo đó, công tác chuyển đổi số trong thời gian tới cần phải được chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn ngành.

Thứ năm,giải pháp về tài chính.

Do công tác đầu tư dự án công nghệ thông tin sẽ mất nhiều thời gian thực hiện, trong khi hệ thống công nghệ thông tin của ngành hải quan đang ngày càng không đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như xu hướng của thời đại. Do đó, cần nguồn lực về tài chính để sớm có hệ thống công nghệ thông tin mới (hải quan số) thay thế cho hệ thống công nghệ thông tin hiện thời.

Thứ sáu, để đảm bảo triển khai chuyển đổi số một cách đồng bộ, trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ đẩy mạnh xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp lý, hoàn thiện môi trường pháp lý và quy trình, thủ tục đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ngành hải quan.

Theo đó, ban hành các văn bản quy định chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ, hồ sơ và xử lý hồ sơ trên môi trường mạng; trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản, quy định, hướng dẫn đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin về quản lý nghiệp vụ hải quan, triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại…

Tổng cục Hải quan khẳng định việc ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số là nhân tố quan trọng, giúp cơ quan hải quan tăng cường hiệu quả quản lý, thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại, đồng thời là cơ sở để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phù hợp với chuẩn mực quốc tế, hướng tới hải quan số.

]]>
Bộ Tài chính công bố 10 sự kiện nổi bật ngành tài chính năm 2022 https://kinhtethitruong.net/bo-tai-chinh-cong-bo-10-su-kien-noi-bat-nganh-tai-chinh-nam-2022/ Thu, 22 Dec 2022 08:00:06 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1465

Ngày 20/12, Bộ Tài chính công bố 10 sự kiện nổi bật ngành tài chính năm 2022. Trong đó, điểm nổi bật là tham mưu các chính sách phục hồi kinh tế, hoàn thành nhiệm vụ ngân sách trước hạn, Việt Nam tăng xếp hạng về công khai minh bạch ngân sách và tín nhiệm quốc gia…

Theo bộ Tài chính, nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2022 triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp khó lường. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo sát sao, kịp thời của Thủ tướng Chính phủ, toàn ngành tài chính thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2022. Qua đó, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra.

NHIỀU CHÍNH SÁCH MỚI CHƯA CÓ TIỀN LỆ HỖ TRỢ PHỤC HỒI

Trong năm 2022, Bộ Tài chính đã chủ động đề xuất nhiều chính sách mới, chưa có tiền lệ hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế – xã hội.

Để kịp thời ứng phó với các tác động do dịch bệnh, đầu năm 2022, Bộ Tài chính đã chủ động đề xuất và triển khai thực hiện ngay Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 do Quốc hội ban hành, với hàng loạt các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ.

 

Trong đó, các chính sách tài khóa là chủ yếu, chiếm khoảng 83% tổng giá trị chương trình phục hồi. Các chính sách thuế trong chương trình đã hỗ trợ cụ thể, như: giảm 2% thuế giá trị gia tăng để thúc đẩy cả sản xuất và tiêu dùng, góp phần kiểm soát lạm phát với số tiền hỗ trợ khoảng 51,4 nghìn tỷ đồng; gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất quy mô 135 nghìn tỷ đồng…

Ngoài các chính sách ưu đãi thuế, tài khóa thuộc chương trình này, Bộ Tài chính cũng trình các cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách, như: giảm lệ phí trước bạ; giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với nhiều nhóm mặt hàng để thúc đẩy hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí…

Đặc biệt, trong bối cảnh giá xăng dầu diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh và đời sống người dân, Bộ Tài chính 2 lần trình Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng, dầu, mỡ nhờn; đề xuất giảm mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng và thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu…

Các chính sách này đã có tác dụng tích cực kiềm chế lạm phát của Việt Nam ở dưới mức 4%; trong khi, nhiều nền kinh tế trên thế giới đang đối mặt với lạm phát cao.

Dự kiến thực hiện các giải pháp nêu trên sẽ hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân với tổng giá trị tiền thuế, tiền thuê đất, phí và lệ phí, tiền thuê đất được miễn giảm, gia hạn năm 2022 khoảng 233,5 nghìn tỷ, trong đó: số tiền gia hạn khoảng 135 nghìn tỷ; miễn, giảm khoảng 98,5 nghìn tỷ.

Tính đến ngày 15/12 đã thực hiện miễn giảm, giãn khoảng 193,4 nghìn tỷ. Đây cũng là số tiền giãn, giảm thuế, phí, lệ phí lớn nhất trong lịch sử ngành tài chính.

NHIỀU NHIỆM VỤ HOÀN THÀNH TRƯỚC HẠN

Nhiều nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước hoàn thành sớm trước thời hạn. Bộ Tài chính đã bám sát yêu cầu của thực tiễn, kịp thời đề xuất các cấp ban hành và ban hành theo thẩm quyền số lượng khá lớn các văn bản pháp luật tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, trong bối cảnh bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, giá xăng dầu, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao. Nhờ đó, các mục tiêu của ngành tài chính hoàn thành trước hạn.

Đến ngày 15/12, thu ngân sách nhà nước vượt 19,8% dự toán.
Đến ngày 15/12, thu ngân sách nhà nước vượt 19,8% dự toán.
 

Đến ngày 15/12, thu ngân sách nhà nước năm 2022 đạt 1.691,8 nghìn tỷ đồng, vượt 19,8% so dự toán, cao hơn 78 nghìn tỷ đồng so với số đánh giá thực hiện cả năm đã báo cáo Quốc hội.

Tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước xấp xỉ 18% GDP (vượt mục tiêu 15,2% GDP). Thu ngân sách trung ương vượt 19,3% dự toán; thu ngân sách địa phương vượt 20,4% dự toán.

Chi ngân sách nhà nước đảm bảo các nhiệm vụ trong dự toán và chi cho phòng, chống dịch, hỗ trợ người dân, chi cho an sinh xã hội, phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ và các nhiệm vụ cấp bách khác.

Nhờ phấn đấu tăng thu, đã có nguồn để chi cho các khoản trong dự toán và nhiệm vụ cấp bách phát sinh.

Về cân đối ngân sách nhà nước, bội chi và nợ công thấp hơn giới hạn được Quốc hội cho phép.

DẪN ĐẦU VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Đối với. chuyển đổi số, trong nhiều năm qua, Bộ Tài chính tiên phong triển khai ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính – ngân sách nhà nước, giúp tăng cường hiệu quả, minh bạch trong quản lý tài chính, hướng đến nền tài chính số tiên tiến, hiện đại, phục vụ hiệu quả cho nền kinh tế số.

 

Ngày 8/8, tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số, Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố báo cáo kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số cấp bộ, cấp tỉnh năm 2021 (DTI 2021). Trong đó, Bộ Tài chính tiếp tục xếp vị trí thứ nhất về mức độ chuyển đổi số năm 2021 khối các bộ cung cấp dịch vụ công…

Theo kết quả được công bố của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ vào tháng 5, Bộ Tài chính tiếp tục giữ vững vị trí thứ 2/17 bộ, cơ quan ngang bộ với kết quả Chỉ số Cải cách hành chính đạt 91,9/100 điểm.

Đây là năm thứ 8 liên tiếp (2014-2021), Bộ Tài chính nằm trong nhóm 3 bộ, cơ quan ngang bộ dẫn đầu PAR Index.

Bộ Tài chính cũng triển khai nhiều hệ thống ứng dụng, dịch vụ số phục vụ người dân, doanh nghiệp, như cung cấp dịch vụ công trực tuyến với 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính và các đơn vị trực thuộc.

Hiện Bộ Tài chính có 464 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4, đạt tỷ lệ gần 60%. Trong đó, số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia là 296 dịch vụ công trực tuyến, đạt tỷ lệ gần 64%. Đồng thời, triển khai các ứng dụng như cấp mã số, hóa đơn điện tử, Etax Mobile …

Bộ Tài chính công bố 10 sự kiện nổi bật ngành tài chính năm 2022 - Ảnh 1

Với yêu cầu đặt ra là phấn đấu hình thành hệ sinh thái tài chính số toàn diện, hiện đại, phong phú trên mọi lĩnh vực, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 1484/QĐ-BTC ngày 27/7/2022 về việc phê duyệt Kế hoạch Chuyển đổi số của Bộ Tài chính đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Tiếp đó, Bộ Tài chính cũng lấy ngày 10/10 hằng năm là “Ngày chuyển đổi số của Bộ Tài chính” theo Quyết định số 1969/QĐ-BTC ngày 26/9/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ về chuyển đổi số của Bộ Tài chính.

TĂNG HẠNG CÔNG KHAI, MINH BẠCH NGÂN SÁCH, TÍN NHIỆM QUỐC GIA

Một trong 10 sự kiện nổi bật trong năm 2022 là Việt Nam tăng xếp hạng về công khai minh bạch ngân sách và tín nhiệm quốc gia.

Theo đó, điểm số công khai minh bạch ngân sách của Việt Nam tiếp tục được cải thiện so với các kỳ đánh giá trước, nâng mức xếp hạng của Việt Nam lên 68/120 nước, tăng 9 bậc so với năm 2019 và tăng 23 bậc so với năm 2017 (chu kỳ đánh giá 2 năm 1 lần).

Có thể nói, chưa lúc nào xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lại tốt như hiện nay.

Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ Ba3 lên Ba2 với triển vọng “ổn định”; S&P nâng xếp hạng lên BB+ với triển vọng “ổn định”; Fitch xếp hạng BB với triển vọng “tích cực”…

Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và là một trong số ít quốc gia trên toàn thế giới được nâng bậc tín nhiệm kể từ đầu năm đến nay.

 

Trong bối cảnh nhiều nước bị hạ bậc tín nhiệm, hạ triển vọng thì việc Việt Nam tiếp tục được các tổ chức liên tục nâng mức tín nhiệm quốc gia thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về các nỗ lực chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đưa nền kinh tế phục hồi sau đại dịch, tăng trưởng mạnh mẽ và trở thành điểm sáng của khu vực.

Điều này cũng cho thấy nền tảng về chính sách tài khóa được thực hiện chủ động, linh hoạt, hiệu quả, bội chi được giảm xuống, nợ công được kiểm soát chặt chẽ, tái cơ cấu nợ công hiệu quả.

Việc được nâng xếp hạng tín nhiệm sẽ giúp huy động được các nguồn vốn cả trực tiếp và gián tiếp từ khu vực bên ngoài vào trong nước sẽ tốt hơn.

Việc xếp hạng tín nhiệm quốc gia đồng thời tác động tích cực đến tín nhiệm của các doanh nghiệp. Tiếp theo sự kiện nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tổ chức Moody’s đã nâng hạng tín nhiệm của 12 ngân hàng Việt Nam.

 

10 sự kiện nổi bật ngành tài chính năm 2022

1. Chủ động đề xuất nhiều chính sách mới, chưa có tiền lệ hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước hoàn thành sớm trước thời hạn.

3. Ngành tài chính liên tục dẫn đầu về chuyển đổi số.

4. Hoàn thành trước 2 tháng việc phủ sóng hóa đơn điện tử trên toàn quốc.

5. Chiến lược Tài chính đến năm 2030 tạo nền tảng xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại, hội nhập.

6. Triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý, giám sát, kịp thời chấn chỉnh thị trường chứng khoán phát triển minh bạch.

7. Việt Nam tăng xếp hạng về công khai minh bạch ngân sách và tín nhiệm quốc gia.

8. Việt Nam là một trong số ít những quốc gia kiểm soát lạm phát hiệu quả.

9. Ngành hải quan nỗ lực tạo thuận lợi thương mại, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục mới 700 tỷ USD9.

10. Quốc hội thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi), tạo nền tảng phát triển bền vững thị trường bảo hiểm Việt Nam.

#box1671531786270{background-color:#a2e2a7}#box1671583263397{background-color:#9de2a3}

]]>
Xuất khẩu 11 tháng năm 2022 vượt cả năm 2021 https://kinhtethitruong.net/xuat-khau-11-thang-nam-2022-vuot-ca-nam-2021/ Thu, 22 Dec 2022 07:47:12 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1545

Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của cả nước trong 11 tháng năm 2022 đạt 342,19 tỷ USD. Kết quả này đã vượt xa con số 336,31 tỷ USD của cả năm 2021…

Theo số liệu thống kê sơ bộ được Tổng cục Hải quan công bố chiều 20/12, trong tháng 11/2022, trị giá xuất khẩu hàng hóa cả nước đạt 29,02 tỷ USD, giảm 4,4% (tương ứng giảm 1,35 tỷ USD về số tuyệt đối) so với tháng trước.

Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 342,19 tỷ USD, tăng 13,4% (tương ứng tăng tới 40,5 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Trong số nhóm hàng xuất khẩu chính sau 11 tháng năm 2022, điện thoại các loại và linh kiện đạt 54,89 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Trung Quốc đạt 14,98 tỷ USD, tăng 10,4%; xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 11,35 tỷ USD, tăng 29,9%; sang EU đạt 6,44 tỷ USD, giảm 9,1%; sang Hàn Quốc đạt 4,82 tỷ USD, tăng 9,8%… so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính của nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính của nhóm hàng điện thoại các loại
và linh kiện.

Nhóm máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện trong 11 tháng năm 2022 đạt 54,89 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường xuất khẩu chính của nhóm hàng này trong 11 tháng năm 2022 vẫn là Hoa Kỳ với 14,57 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là thị trường Trung Quốc đạt 10,66 tỷ USD, tăng 10,1%; thị trường EU đạt 6,38 tỷ USD, tăng 8,1%; thị trường Hồng Kông đạt 5,41 tỷ USD, giảm 2,7%; sang thị trường Hàn Quốc đạt 3,03 tỷ USD, giảm 3,1%…

Đối với nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác, tính chung 11 tháng năm 2022, xuất khẩu của nhóm hàng này đạt 42,02 tỷ USD, tăng 23,4% (tương ứng tăng 7,98 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường xuất khẩu chủ lực của nhóm hàng này đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Hoa Kỳ đạt 18,55 tỷ USD, tăng 19,2%; EU đạt 5,32 tỷ USD, tăng 36,3%; Trung Quốc đạt 3,34 tỷ USD, tăng 30,6%; ASEAN đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước.

Với hàng dệt may, trị giá xuất khẩu trong 11 tháng đạt 34,65 tỷ USD, tăng 18,9% (tương ứng tăng 5,51 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 16,09 tỷ USD, tăng 12,7%; sang EU đạt 4,1 tỷ USD, tăng 41,5%; Nhật Bản đạt 3,69 tỷ USD, tăng 27,3%; Hàn Quốc đạt 3,05 tỷ USD, tăng 12,5%… so với cùng kỳ năm trước.

Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của nhóm hàng dệt may.
Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của nhóm hàng dệt may.

Nhóm hàng giày dép các loại trong 11 tháng năm 2022 cũng có mức tăng khá ấn tượng với 22,03 tỷ USD, tăng tới 39,3% (tương ứng tăng 6,22 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ đạt hơn 9 tỷ USD, tăng 36%; EU đạt 5,43 tỷ USD, tăng 50,8%; Trung Quốc đạt 1,54 tỷ USD, tăng 8,6%… so với cùng kỳ năm trước.

Đối với nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ, trong 11 tháng năm 2022, trị giá xuất khẩu của nhóm hàng này đạt 14,69 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 tháng qua, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Hoa Kỳ đạt 7,98 tỷ USD, tăng 0,6%; sang Trung Quốc đạt 1,99 tỷ USD, tăng 45,6% và Nhật Bản đạt 1,72 tỷ USD, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm trước.

Về thủy sản, tính trong 11 tháng năm 2022, xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam đạt 10,17 tỷ USD, tăng tới 27,4% (tương ứng tăng 2,19 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng qua, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường chủ lực đều tăng cao như Hoa Kỳ đạt 2,03 tỷ USD, tăng 8,6%; Nhật Bản đạt 1,58 tỷ USD, tăng 30,4%; Trung Quốc đạt 1,47 tỷ USD, tăng 71,3% và EU đạt 1,21 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu thủy sản sang các thị trường chủ lực đều tăng cao.
Xuất khẩu thủy sản sang các thị trường chủ lực đều tăng cao.

Từ chiều ngược lại, trong tháng 11/2022, trị giá nhập khẩu hàng hóa đạt 28,28 tỷ USD, tăng 1,3% (tương ứng tăng 375 triệu USD) so với tháng trước.

Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 11/2022, tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 331,51 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong đó, tăng mạnh nhất là máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 7,87 tỷ USD (tương ứng tăng 11,5%); xăng dầu các loại tăng 4,42 tỷ USD (tương ứng tăng 119,6%); hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,79 tỷ USD (tương ứng tăng 20,2%); dầu thô tăng 2,72 tỷ USD (tương ứng tăng 69,2%); than đá tăng 2,66 tỷ USD, tăng 58,8%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 2,06 tỷ USD (tương ứng tăng 8,6%)…

Với kết quả trên, sau 11 tháng năm 2022, cán cân thương mại thặng dư tới 10,68 tỷ USD, vượt xa con số 4 tỷ USD của cả năm 2021.

]]>
Tạo lợi thế cạnh tranh, cần giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp https://kinhtethitruong.net/tao-loi-the-canh-tranh-can-giam-chi-phi-logistics-cho-doanh-nghiep/ Thu, 22 Dec 2022 07:42:29 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1581

Hiện có những doanh nghiệp Việt Nam phải trả chi phí logistics lên tới 20 – 30% giá trị hàng hóa, đây là mức rất cao gây bất lợi cho giá cả hàng hoá…

Báo cáo về chỉ số logistics thị trường mới nổi năm 2022 do Agility vừa công bố, Việt Nam đứng thứ 11 trong bảng xếp hạng top 50 quốc gia đứng đầu thị trường logistics mới nổi, đứng thứ 4 tại khu vực Đông Nam Á.

“Điều này có thể thấy logistics là một trong những ngành tăng trưởng nhanh và ổn định nhất với mức tăng trưởng trung bình 14-16% mỗi năm, đóng góp vào GDP từ 4 đến 5%”, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết tại Diễn đàn Logistics khu vực châu Âu – châu Mỹ 2022 diễn ra ngày 20/12/2022, tại TP.HCM.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải: "Các giải pháp logistics đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp" - Ảnh: PC.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải: “Các giải pháp logistics
đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao
sức cạnh tranh cho doanh nghiệp” – Ảnh: PC.

Việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào khu vực Âu – Mỹ được coi là thị trường quan trọng, nơi có những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như Hoa Kỳ (lớn nhất), Liên minh châu Âu (lớn thứ 3) cùng nhiều đối tác quan trọng và tiềm năng khác.

Năm 2021, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và khu vực Âu –Mỹ đạt gần 212 tỷ USD (tăng trưởng 21% so với cùng kỳ). Tính đến hết tháng 11/2022, kim ngạch thương mại đã đạt 212 tỷ USD (tăng 11,8%), trong đó xuất khẩu đạt 171 tỷ USD (tăng gần 16%), xuất siêu sang khu vực đạt hơn 128 tỷ USD.

Đối với khu vực thị trường đầy hứa hẹn này, các giải pháp logistics đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, mở ra cánh cửa cho nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam khi trao đổi thương mại với thế giới nói chung, đặc biệt là khu vực Âu – Mỹ nói riêng, vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn do hạ tầng giao thông và hạ tầng logistics (kho bãi, trung tâm logistics) hạn chế, thiếu đồng bộ.

Đặc biệt, quy trình thủ tục hải quan còn chồng chéo; doanh nghiệp logistics còn thiếu thông tin, thiếu liên kết… Điều này khiến chi phí logistics của Việt Nam luôn ở mức rất cao, là gánh nặng cho doanh nghiệp.

Các diễn giả tham dự Diễn đàn Logistics khu vực châu Âu - châu Mỹ 2022  đều cho rằng chi phí logistics của Việt Nam luôn ở mức rất cao.Ảnh: PC.
Các diễn giả tham dự Diễn đàn Logistics khu vực châu Âu – châu Mỹ 2022
đều cho rằng chi phí logistics của Việt Nam luôn ở mức rất cao.Ảnh: PC.

Theo ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM,  một container gỗ trị giá 20.000 – 30.000 USD, trong đó chi phí logistics chiếm tới 20-30% (4.000 -9.000 USD). Dù cước vận tải nước ngoài đã giảm sâu nhưng chi phí logistics nội địa vẫn cao và có xu hướng tăng lên.

Bà Võ Thị Phương Lan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics TP.HCM (HLA), cho biết hiện nay chi phí logistics trung bình của Việt Nam ở mức 16,8 – 17% giá trị hàng hóa, nhưng có những doanh nghiệp phải chi trả tới 20 – 25%.

Để tối ưu hóa chi phí logistics, bà Lan cho rằng các doanh nghiệp nên sử dụng tích hợp chuỗi dịch vụ khai báo hải quan, vận chuyển nội địa.

Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên thay đổi điều kiện bán hàng từ FOB sang mua hàng CIF nhằm chủ động hơn trong việc sử dụng các lịch vận chuyển phù hợp, tìm kiếm nhà cung cấp cạnh tranh uy tín nhằm tiết kiệm chi phí cước tàu và các rủi ro trong quá trình vận chuyển.

Đồng thời, “swap container” (trao đổi container) giữa hàng xuất – nhập. Theo đó, các nhà xuất nhập khẩu nên thỏa thuận với các hãng vận chuyển cho phép áp dụng chính sách “swap container” hàng xuất – nhập nhằm giảm thiểu chi phí vận tải.

“Việc sử dụng container nhập hàng để đóng hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp giảm 50% chi phí, và dùng container nhập để vận chuyển hàng đến kho ngoại quan giúp giảm 30% chi phí vận chuyển”, bà Lan nhấn mạnh.

Về phía Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, ông Trương Tấn Lộc – Giám đốc Marketing, cho biết các doanh nghiệp cần tăng cường thay đổi phương thức vận tải nội địa từ đường bộ sang đường thủy nội địa để giảm chi phí vận chuyển. Để làm được điều này, cần đầu tư xây dựng các bến sà lan tại khu vực Đồng Nai, Bình Dương.

Đối với việc khai thác các cảng, cần có cơ chế để liên kết và luân chuyển hàng hóa giữa các bến cảng trong khu vực Cái Mép – Thị Vải (cơ chế “cảng mở”), nhằm tối ưu hóa công suất khai thác và tận dụng tối đa cầu bến của nhau, giúp giảm chi phí logistics cho hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua khu vực này.

Hiện nay, để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đơn vị đang tăng cường kết nối, mở tuyến vận tải thủy kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với cảng nước sâu Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu) và cảng Cát Lái (TP.HCM) qua kênh Quan Chánh Bố.

]]>
Xuất khẩu gia vị sẽ đạt khoảng 1,5 tỷ USD https://kinhtethitruong.net/xuat-khau-gia-vi-se-dat-khoang-15-ty-usd/ Thu, 22 Dec 2022 07:41:49 +0000 https://www.kinhtethitruong.net/?p=1588

Ngành gia vị Việt Nam dự kiến xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD trong năm 2022, tăng so với mức 1,4 tỷ USD đạt được trong năm 2021…

Tại hội thảo “Thúc đẩy xuất khẩu hồ tiêu và gia vị Việt Nam theo Hiệp định EVFTA” do Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) tổ chức ngày 21/12/2022, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPA, cho biết năm 2022, bối cảnh thế giới có nhiều biến động về các yếu tố địa chính trị, chính sách tài chính tiền tệ của các nước thay đổi liên tục, tình hình lạm phát gia tăng… đã ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu dùng của thế giới.

Tuy nhiên, theo bà Liên ngành hồ tiêu vẫn đạt được kết quả tích cực. Trong 11 tháng năm 2022, Việt Nam xuất khẩu được 211.507 tấn hồ tiêu các loại, với kim ngạch đạt 911 triệu USD, giảm 14,9% về lượng, nhưng tăng 3,9% (tương ứng tăng 34 triệu USD) về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.

Ước tính cả năm, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam sẽ đạt gần 230.000 tấn (giảm 13-14% về sản lượng). Dù vậy, nhờ có sự hồi phục về giá nên kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu cả năm dự kiến vẫn tăng nhẹ 2%, đạt 970 triệu USD (năm 2021 đạt 950 triệu USD).

Tính chung toàn ngành gia vị, năm 2022 dự báo xuất khẩu gia vị của Việt Nam đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng so với mức 1,4 tỷ USD của năm 2021.

Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPA, phát biểu tại hội thảo - Ảnh: PC.
Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPA, phát biểu tại hội thảo – Ảnh: PC.

Bà Liên đánh giá, ngành gia vị Việt Nam đã ổn định và đang đi vào chuỗi giá trị của thế giới. Với những thành tích đạt được trong năm 2022, ngành gia vị Việt Nam sẽ vẫn duy trì được nhịp độ chế biến sản xuất và xuất khẩu. Đặc biệt khi các doanh nghiệp đã nhận thức đầy đủ và có sự chuẩn bị cho Hiệp định tự do thương mại Việt Nam – EU (EVFTA).

Cụ thể, trong chương gia vị có những dòng thuế có thuế suất tương đối thấp. Chẳng hạn, thuế nhập khẩu hồ tiêu xay hoặc nghiền xuất khẩu sang EU giảm từ 4% xuống còn 0%… So sánh với các nước có cùng lợi thế xuất khẩu như Việt Nam thì Indonesia, Malaysia, Ấn Độ đều chưa có ký kết hiệp định tự do thương mại (FTA) với châu Âu.

“EVFTA chính là một lợi thế mà các doanh nghiệp cần quan tâm dành thời gian đầu tư, tìm hiểu hiểu hiệp định để có thể vận dụng tối đa các cam kết trong hiệp định. Vì đây chính là khuôn khổ pháp lý để Việt Nam có thể đi sâu hơn vào thị trường EU và mở rộng thêm các thị trường khác như Đông Âu, Ba Lan, Nga…”, bà Liên nhấn mạnh.

Ngoài ra, ngành hồ tiêu Việt Nam cũng được đánh giá cao về năng lực chế biến với tỷ lệ hàng qua chế biến hiện chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.

]]>